Điểm di tích

Đền thờ Nàng Han

Đền thờ Nàng Han nằm ở bản Tây An thuộc xã Mường So và bản Phai Cát, xã Khổng Lào, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Đây là một địa điểm thờ cúng nhân vật trong truyền thuyết được Nhân dân gọi là Nàng Han (Nàng có nghĩa là con gái, Han có nghĩa là anh hùng). Tương truyền, Nàng Han xuất thân trong một gia đình người Thái nghèo ở Chiềng Sa (nay là xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu). Nàng đã cải trang thành nam giới, đứng lên kêu gọi thanh niên trai tráng các bản đoàn kết đánh giặc. Nàng đứng đầu cuộc khởi nghĩa của đồng bào 16 xứ Thái quật cường đánh bại giặc xâm lược phương Bắc. Sau khi dẫn đoàn quân thắng trận trở về, nàng tắm gội ở mó nước Tây An (xã Mường So) rồi bay lên trời. Từ đó, nhớ công ơn của nàng, bà con lập đền thờ và tổ chức lễ hội ngay ở mó nước nàng tắm. Nàng Han không chỉ là nhân vật được thờ phụng của người dân ở xã Mường So hay địa bàn tỉnh Lai Châu nói riêng mà Nàng Han là nhân vật thờ phụng của tất cả đồng bào dân tộc Thái Trắng trên cả khu vực Tây Bắc. Nàng Han trong tâm linh 16 xứ Thái, xứ Mường ở Tây Bắc giống như Bà Trưng, Bà Triệu đối với người Kinh. Ngày 25-12-2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Lai Châu công nhận Đền thờ Nàng Han là Di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu

Lai Châu 366 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Đồn Mường Bum

Đồn Mường Bum được Thực dân Pháp thiết kế dựa trên địa thế hiểm trở, xây dựng kiên cố từ năm 1917 và có chiến lược lâu dài với một khu vực rộng nằm trên đỉnh đồi thuộc bản Bum, xã Bum Nưa (nay thuộc thị trấn Mường Tè). Với tổng diện tích 2.592m2, chiều dài là 72m, chiều rộng 36m, được chia làm ba cấp theo chiều dài xung quanh được bao bọc bởi các bức tường thành kiên cố, bốn góc quan sát quan trọng được dựng bốn lô cốt phòng thủ. Hệ thống phòng thủ được chia làm ba cụm hoả lực chính, trong đó có các lỗ châu mai, hệ thống đồn được bao bọc bởi các bức tường thành kiên cố, phía trước có cổng chính, phía sau có cổng phụ, phía giáp với suối Nậm Xỳ Lường còn một cổng dùng cho việc rút lui khi bị tấn công và tiếp tế lương thực, quân chi viện theo đường thuỷ. Khi có báo động tất cả các cánh cổng được đóng lại, hệ thống đồn được khép kín hoàn toàn và được đưa vào trạng thái sẵn sàng chiền đấu. Đồn Mường Bum không chỉ là hoạt động quân sự mà trong đồn là cả một hệ thống, một tổng thể kiến trúc gồm hệ thống phòng thủ, căn cứ, tăng gia sản xuất được tính toán và có chiến lược lâu dài. Nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử quan trọng của địa phương như cuộc chiến chống Phỉ (tàn quân của Thực dân Pháp và bọn tay sai phản động(tháng 12/1953 – 1954)… Đồn Mường Bum được UBND tỉnh Lai Châu xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh ngày 25/4/2011. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu

Lai Châu 394 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Di tích nơi giam cố luật sư – chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ

Di tích nơi giam cố luật sư – chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ Được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh ngày 23 tháng 8 năm 2012 . Di tích nằm trên địa phận Bản Giang – xã Mường Tè – huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Trước đây thực dân Pháp đã giam lỏng cố luật sư Nguyễn Hũu Thọ. Nhân dân địa phương đã dựng một ngôi nhà sàn gỗ để Nguyễn Hữu Thọ sinh sống.Vào tháng 6 năm 1950 thực dân Pháp cho máy bay chở Luật sư ra thị xã Sơn La từ Sơn La, ô tô chở Luật sư theo đường số 6 đến Lai Châu. Luật sư Nguyễn Hữu Thọ sinh ngày 10 tháng 7 năm 1910. Năm 1930 ông học Luật tại Pháp và trở về nước năm 1933. Năm 1948 ông tham gia mặt trận liên Việt, năm 1949 được kết nạp vào Đảng Cộng Sản Đông Dương. Ông hoạt động trong phong trào trí thức yêu nước, bị thực dân Pháp bắt tháng 6 năm 1950 và bị giam tại Lai Châu (ở bản Giang, Xã Mường Tè, Huyện Mường Tè, Tỉnh Lai Châu ngày nay), sau đó ông bị luân chuyển về Sơn Tây cho đến tháng 11 năm 1952. Cuối tháng 11 năm 1961 Luật sư Nguyễn Hữu Thọ về Tây Ninh. Tháng 2 năm 1962 Đại hội lần thứ nhất mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức ông được bầu làm Chủ tịch. Tháng 6 năm 1969 chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được thành lập ông giữ chức chủ tịch hội đồng cố vấn. Năm 1976 ông được bầu phó Chủ tịch nước Việt Nam thống nhất. Tháng 4 năm 1980 sau khi chủ tịch nước Tôn Đức Thắng qua đời, ông làm Quyền chủ tịch nước đên tháng 7 năm 1981. Năm 1981 đến năm 1987 ông là Chủ tịch Quốc hội nước Việt Nam. Ông được tặng thưởng “Huân Chương Sao Vàng” năm 1993. Ông qua đời tại thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 24 tháng 12 năm 1996. Qua đó ta có thấy được rằng luật sư – Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ có cuộc đời, sự nghiệp của một trí thức yêu nước tài năng, là tấm gương đạo đức cao đẹp và những cống hiến trọn đời cho tổ quốc, cho dân. Ông là con người tiêu biểu của tình đoàn kết dân tộc, là một nhà lãnh đạo tài năng, một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng. Ngày 8/12/2012 UBND tỉnh Lai Châu cũng đã cắt băng khánh thành Nhà lưu niệm (nơi lưu giữ một số hình ảnh về Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) - của Trường Tiểu học mang tên Nguyễn Hữu Thọ tại xã Mường Tè - Huyện Mường Tè. Nguồn: Du lịch Lai Châu

Lai Châu 369 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Động Tiên Sơn

Động Tiên Sơn (tên gọi khác là động Đán Đón, Pờ Ngài Tủng, động Đá Trắng, động Bình Lư) nằm kề quốc lộ 4D, thuộc địa phận xã Bình Lư, huyện Tam Đường. Động Tiên Sơn với các hang động nằm trong quần thể danh thắng gắn liền với truyền thuyết về 99 ngọn núi, 99 hồ nước của đồng bào dân tộc Lai Châu - đã trở thành nét đẹp riêng mà ít nơi nào có được. Truyền thuyết về động Tiên Sơn đã được dân gian lưu truyền qua nhiều thế hệ: 99 ngọn núi chính là biểu tượng của 99 chàng trai khỏe mạnh, cường tráng, còn 99 hồ nước trong xanh chính là 99 người con gái cần cù, xinh đẹp. Những ngọn núi và hồ nước nối tiếp nhau tạo nên bức tường thành ôm giữ một vùng đất đai trù phú, phì nhiêu. Cảnh đẹp và con người nơi đây trở thành nguồn cảm hứng cho ra đời những lời ca tuyệt vời “chín mươi chín ngọn núi chàng trai, chín mươi chín hồ xanh cô gái”... Động Tiên Sơn có 49 cung nối tiếp nhau chạy dài thông qua hai sườn núi, càng vào sâu bên trong, diện tích các cung càng lớn. Trong động có nhiều thạch nhũ muôn hình muôn vẻ, màu sắc huyền ảo. Dưới lòng động có dòng suối trong vắt chảy qua, luồn lách qua các cung như: Cung công danh, Lạc Long Quân, Mẫu Âu Cơ, Bà Chúa Kho, giải oan, xin con. Tiên Sơn là hang động thiên tạo đẹp nổi tiếng trong vùng còn giữ được vẻ hoang sơ. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp nơi đây còn là nơi cất giấu lương thực và là căn cứ địa của phong trào cách mạng. Năm 1996, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận động Tiên Sơn là Di tích lịch sử văn hóa - Danh lam thắng cảnh cấp quốc Gia. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu

Lai Châu 410 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Khu Di Tích Lịch Sử Bản Lướt

Di tích Bản Lướt xã Mường Kim là nơi Ban cán sự Đảng tỉnh Lai Châu ra đời thông qua Nghị quyết của Liên khu ủy 10 về thành lập Chi bộ Đảng Lai Châu. Đây chính là tiền thân của Đảng bộ tỉnh Lai Châu ngày nay. Ngày 10/10/1949, Ban Thường vụ Liên khu uỷ 10 thành lập Ban Cán sự Đảng Lai Châu gồm 3 đồng chí: Nguyễn Bá Lạc (Bí danh Trần Quốc Mạnh) - Tỉnh uỷ viên Tỉnh uỷ Yên Bái làm Trường ban, đồng chí Hoàng Đông Tùng - Đội trưởng đội xung phong Lai Châu và đồng chí Tạ Nhật Tựu (Bí danh Hoàng Hoa Thưởng) - Thường vụ Huyện uỷ huyện Lập Thạch (Vĩnh Phúc) được điều lên Lai Châu làm Uỷ viên. Tháng 11/1949, đoàn Ban Cán sự Đảng Lai Châu do đồng chí Trần Quốc Mạnh và Hoàng Hoa Thưởng phụ trách, đã đến Than Uyên và quyết định chọn Bản Lướt, xã Mường Kim (Than Uyên) làm căn cứ hoạt động để tiến vào Lai Châu. Ngày 02/12/1949, Ban Cán sự Lai Châu triệu tập hội nghị công bố quyết định của Liên Khu uỷ 10 về việc thành lập Chi bộ Lai Châu gồm 20 đồng chí, đồng chí Trần Quốc Mạnh làm Bí thư. Đây là sự kiện quan trọng trong lịch sử cách mạng Lai Châu, đánh dấu sự ra đời của chi bộ đảng đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Lai Châu. Bản Lướt nằm trên đồi Noong Nanh thuộc bản Lướt, xã Mường Kim, huyện Than Uyên, cách thị trấn Than Uyên 4km về phía nam và cách thành phố Lai Châu 100km về hướng đông nam theo quốc lộ 4D và quốc lộ 32. Khu di tích được đầu tư xây dựng bia tưởng niệm và vòng quanh khuôn viên của bản. Tháng 10 năm 2003 huyện Than Uyên vinh dự được nhà nước trao tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Di tích Bản Lướt được tỉnh công nhận năm 2009 là di tích lịch sử cách mạng. Nguồn: Tỉnh đoàn Lai Châu

Lai Châu 375 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Hang kháng chiến Nà Củng

“ Hang Nà Củng” nằm ở bản Nà Củng thuộc xã Mường So - huyện Phong Thổ - tỉnh Lai Châu. Trước khi chia tách tỉnh năm 2004 thì Hang Nà Củng thuộc Bản Nà Củng - xã Mường So - huyện Tam Đường - Tỉnh Lai Châu (cũ). Di tích nằm trên đỉnh của một ngọn núi thấp, phía dưới là cánh đồng Tùng So sải cánh cò bay và con suối Nậm So trước cửa hang để rồi đổ ra dòng Nậm Na. Đứng trước cửa hang có thể nhìn thấy dòng suối nước chảy mềm mại như một chiếc khăn tay màu trắng của một thiếu nữ thiết tha trong gió. Hoà quyện vào đó là cánh đồng Tùng So với muôn vàn ô thửa, hứa hẹn những mùa bội thu, đời sống nhân dân trên địa bàn ấm no, hạnh phúc. Điểm xuất phát từ Thị xã Lai Châu chúng ta dọc theo đường quốc lộ 4D với con đường đã được dải nhựa bằng phẳng, uốn lượn theo các vòng cua của sườn núi hùng vĩ, trên đường đi du khách đã thưởng ngoạn trước cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú của núi rừng mang đậm tính đặc thù trên vùng đất Tây Bắc. Với độ dài 23km chúng ta sẽ tới được ngã ba Phong Thổ có độ dài 7km, còn một chặng đường đi vào thị tứ Mường So (từ ngã ba này vào trung tâm xã khoảng 3 km đường trải nhựa bằng phẳng). Khi qua UBND xã Mường So chúng ta tới khu chợ trung tâm, tại đây không khí thật náo nhiệt. Dòng người từ nhiều nơi tụ họp về để mua bán trao đổi sản phẩm phục vụ cuộc sống. Không khí và nhịp sống tại đây đã làm cho chúng ta được thay đổi chút náo nhiệt của xã hội. Khi đi qua cây cầu bê tông cốt thép bắc qua dòng sông Nậm Lùm (cầu chợ hay còn gọi là cầu Nang Pôông). Chúng ta tiếp tục dọc theo đường trục chính khoảng 1km sẽ tới ngã ba rẽ vào bản Nà Củng. Với con đường mộc mạc, mang tính nguyên sơ của cộng đồng, du khách sẽ có một cảm giác mới lạ như tách ra khỏi thế giới náo nhiệt để trở về một vùng quê yên bình. Với bờ suối, cánh đồng và muôn vàn cảnh vật bất cứ ai cũng cảm thấy nhỏ bé đi rất nhiều. khi du khách tới cầu treo bắc qua suối Nậm So lúc đó là lúc du khách tiếp cận được với văn hoá sinh hoạt cộng đồng dân cư Thái Trắng nơi đây. Có thể nói, bản Nà Củng là một trong những bản đầu tiên của người Thái Trắng trong cả khu vực, đây là một trong những cái nôi về văn hoá, cách mạng và phong tục tập quán. Với những ngôi nhà sàn truyền thống san sát, với dãnh nước chảy dọc khắp bản…Tất cả những điều đó đã bổ trợ thêm, làm sinh động thêm cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời trong đời sống văn hoá đa dạng. Khi đi hết con đường đất chạy dọc bản du khách sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi trước mắt mình mở ra một cảnh tượng hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc trùng điệp, với núi liền núi, sông suối, cánh đồng kết hợp với nhau tạo thành một thể thống nhất, một bức tranh nhiều màu vô giá của tự nhiên. Chính tại đây du khách đã đến được với di tích Lịch sử văn hoá và Danh lam thắng cảnh Hang Kháng chiến Nà Củng. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu

Lai Châu 367 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Đồn Mường Tè

Đồn Mường Tè được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp tỉnh ngày 31 tháng 12 năm 2008. Di tích nằm trên đồi “Phụ độn” tức là núi đồn thuộc bản Nậm Củm – xã Mường Tè - Huyện Mường Tè - tỉnh Lai Châu. Được xây dựng trên đỉnh của ngọn đồi khá cao và hiểm trở, nằm giữa ngã ba của suèi Nậm Củm và sông Đà rất thuận tiện cho việc quan sát bốn phía và lối thoát ra sông Đà sang Mù Cả khi bị tấn công. Tháng tư năm 1980 thực dân Pháp chiếm xong toàn bộ tỉnh Lai Châu sau khi lần lượt dập tắt các phong trào khởi nghĩa của nhân dân thực dân Pháp bắt tay vào việc xây dựng bộ máy thống trị bằng nhiều âm mưu thủ đoạn thâm độc, nhiều người ở các Châu, Mêng đã làm tay sai cho thực dân Pháp. Ngày 27/3/1916 thực dân Pháp thành lập đạo quan binh thứ 4 Lai Châu gồm: Lai Châu, Châu Quỳnh Nhai, sở Đại lý và Châu Điện Biên; các khu biên giới phía Bắc gồm: Mường Tè, Mường Nhé, Mường Bum (Mường Tè), Mao Xà Phìn (Sìn Hồ). Theo Nghị định số: 2016 ngày 6 tháng 9 năm 1917 của toàn quyền Đông Dương, các đồn ở A Pa Chải và Mường Tè được thành lập do người Pháp chỉ huy và người địa phương có nhiệm vụ canh giữ để đảm bảo an ninh cho vùng biên giới phía Bắc. Đến năm 1929 thống sứ Bắc Kỳ cho phép tập hợp ba khu biên giới: Mường Tè, Mường Nhé, Mường Bum thành một tập đoàn hành chính đặt dưới sự kiểm soát của một viên trung uý người Pháp chỉ huy ở cứ điểm đồn Mường Tè, từ đó người dân địa phương thường gọi đây là đồn Mường Tè. Nguồn: Sở Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Tỉnh Lai Châu

Lai Châu 353 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Di tích Lịch sử Bia Lê Thái Tổ (Lê Lợi)

Quần thể đền thờ vua Lê Thái Tổ và bia vua Lê Thái Tổ nằm cách trung tâm thành phố Lai Châu 110km về phía Tây Nam, thuộc địa phận hành chính của xã Lê Lợi và xã Pú Đao, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Đền thờ được dựng lên để tưởng nhớ công lao của vị anh hùng dân tộc Lê Lợi, người đã có công dẹp loạn vùng Tây Bắc. Ngôi đền tọa lạc trên vị trí đắc địa, cao ráo, có thể phóng tầm mắt 4 phía. Tại quần thể đền thờ Vua Lê còn có một di tích quý báu đó là di tích bia Lê Lợi. Tháng Chạp năm Tân Hợi (1431), vua Lê Thái Tổ đã cho tạc khắc vào vách đá Pú Huổi Chỏ bên bờ bắc sông Đà để lưu lại cho muôn đời sau, sử cũ gọi là “Bia cổ hoài lai”. Văn bia ghi lại sự kiện lịch sử vua Lê Thái Tổ thân chinh chỉ huy các đạo quân dẹp phản loạn ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc. Đó là sự kiện năm 1431, tù trưởng Đèo Cát Hãn làm phản, liên kết với Kha Đốn (còn gọi là Kha Lại) - một bầy tôi phản nghịch của Ai Lao (nước Lào) quấy nhiễu Nhân dân nơi biên ải, đánh chiếm vùng đất Mường Muỗi (nay là vùng Thuận Châu - Sơn La ngày nay). Do hành động phản nghịch của Đèo Cát Hãn, vua Lê Thái Tổ đã phái Quốc vương Tư Tề và quan Tư khấu Lê Sát đem quân tiến đánh. Sau đó, vua Lê Thái Tổ thân chinh đem quân lên châu Phục Lễ (châu Ninh Viễn). Đại quân của triều đình tiến theo đường từ sông Hồng, rồi ngược sông Đà, bằng đường thủy và đường bộ, đánh tan quân phản nghịch Đèo Cát Hãn. Khi quân của nhà vua tiến đến sào huyệt của Đèo Cát Hãn, Kha Lại và Đèo Cát Hãn bỏ trốn, sau đó Nhân dân bắt được Kha Lại và giết chết. Tháng Chạp năm Tân Hợi - 1431, sau khi bình định vùng Tây Bắc, trên đường quay trở về qua địa phận xã Lê Lợi, huyện Nậm Nhùn (hiện nay), để ghi nhớ sự kiện trọng đại này đồng thời răn dạy các tù trưởng cai quản nơi biên cương của Tổ quốc, vua Lê Thái Tổ đã cho khắc 1 bài thơ vào vách đá . Tấm bia khắc bài thơ của vua Lê Thái Tổ còn lại cho đến ngày nay là một di sản văn hóa cực kỳ quý báu. Tấm bia đá hay đúng hơn là một trang vàng lịch sử chống giặc ngoại xâm cùng những tên tù trưởng tham lam, câu kết với ngoại bang để chống lại Nhà nước phong kiến Việt Nam lúc đó. Năm 2005, Nhà máy thủy điện Sơn La khởi công. Để tránh bị ngập nước, phần bút tích văn bia của vua Lê Thái Tổ đã được di dời. Bút tích sau khi được khoan cắt ra thành một khối đá lớn có kích thước dài 2,62m, rộng 1,13m, cao 1,85m, trọng lượng trên 15 tấn. Năm 2012, bia Lê Lợi được di dời khỏi vách đá Pú Huổi Chỏ đến khuôn viên đền thờ vua Lê Thái Tổ cách vị trí cũ 500m. Di tích Bia Lê Lợi đã được công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 02-9-1981. Cuối 2016, Bia Lê Lợi chính thức được công nhận là Bảo vật quốc gia. Đầu năm 2017, Đền thờ vua Lê Lợi cũng được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia ngày 23-01-2017. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu

Lai Châu 364 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Di tích khảo cổ Nậm Tun

Di chỉ khảo cổ Nậm Tun được khai quật trong hang Nậm Tun, địa phận bản Phiêng Đanh, xã Mường So, huyện Phong Thổ nay là thị xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Trước năm 1945, hang Nậm Tun có tên gọi là Thẳm Hộ Khoại - nghĩa là Hang Dào trâu. Di tích khảo cổ học Nậm Tun khai quật năm 1973, tầng văn hoá dày 1,8 m có hai lớp. Lớp trên có mặt rìu đá mài, đồ gốm và 3 mộ (còn giữ lại được di cốt) đặc trưng cho hậu kì đá mới. Lớp dưới đã tìm thấy gần 200 công cụ cuội ghè đẽo thô sơ, kích thước lớn, trên 700 mảnh tước và 2 mộ đặc trưng cho hậu kì đá cũ, tiêu biểu cho di tích khảo cổ hang động cổ xưa nhất ở Tây Bắc, thuộc văn hoá Sơn Vi. Di chỉ hang Nậm Tun là nơi cư trú, mai táng và chế tác công cụ của 2 lớp người, có 2 tầng văn hóa, giai đoạn trước và giai đoạn hậu kỳ thời đại Đá mới. Ở hang Nậm Tun có 5 ngôi mộ cổ và nhiều di vật cổ, đặc biệt là mũi dùi bằng xương, lần đầu tiên tìm thấy ở Việt Nam. Hang Nậm Tun ở vào vị trí khá thuận lợi. Cửa hang nhìn về phía Tây. Trước hang là một dòng suối lớn, ngày nay người dân nơi đây quen gọi là làng Nậm Phé (Nậm Phé cách cửa hang không quá 100 m). Về mùa nước lũ, dòng suối dâng lên ngập cả thung lũng bao quanh hang. Thung lũng ngày nay quang đãng hơn, từ đó mọc lên những bản làng của người Hoa và người Thái sống xen kẽ. Hang Nậm Tun có cấu tạo rất phức tạp. Có chỗ thạch nhũ phủ dày. Có chỗ thạch nhũ chỉ mới tráng thành lớp mỏng. Lớp này dày trong khoảng 0,15m đến 0,20m. Tại đây tìm thấy di tích văn hoá của nhiều thời đại khác nhau. Những chiếc rìu mài toàn thân, những mảnh gốm tuy thô ráp song đã chế tạo bằng bàn xoay, có trang trí hoa văn khắc vạch, hoa văn thừng…, một khuôn đúc hai mang bằng đá, một hạt cườm xanh bằng ngọc bích- tất cả nếu sớm nhất cũng thuộc vào giai đoạn hậu kì thời đại đá mới. Qua lớp cuội to, là lớp đất có màu nâu sẫm, lẫn nhiều sỏi. Ở đây tìm thấy nhiều công cụ cuội ghè đẽo thô sơ, có trọng lượng và kích thước khác nhau, chưa có hình dáng ổn định, tìm thấy nhiều mảnh tước to, sản phẩm của quá trình chế tác công cụ bằng phương pháp ghè đẽo trực tiếp. Di tích khảo cổ hang Nậm Tun được xếp hạng Di tích lịch sử khảo cổ Quốc gia ngày 07/02/2013. Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Lai Châu

Lai Châu 383 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp quốc gia Mở cửa

Dinh thự Đèo Văn Long

Dinh thự Đèo Văn Long nằm trên địa phận xã Lê Lợi, huyện Sìn Hồ, Tỉnh Lai Châu. Theo kết quả khảo sát năm 1983 của Sở Văn hoá - Thông tin tỉnh Lai Châu thì công trình này được bắt đầu xây dựng từ năm 1916. Các tư liệu để lại về dinh thự và gia tộc họ Đèo tuy còn rất sơ khai, nhưng đều cho rằng tất cả các công việc chọn hướng, chọn vị trí đặt cổng chính, miếu thờ, nhà Đẳm (nhà thờ tổ tiên) đều được gia tộc họ Đèo thuê thầy địa lí xem xét cẩn thận. Hai kiến trúc sư một người Pháp, một người Trung Quốc được mời về để thiết kế và giám sát, vật liệu được đưa lên từ các tỉnh miền xuôi. Vì vậy, kiến trúc khu dinh thự mang đường nét phương Tây hòa quyện dáng dấp phương Đông, đồng thời là đặc trưng của nghệ thuật xây dựng và phong thuỷ của người Thái. Dinh thự có diện tích chừng hơn 1ha, do nhu cầu phòng thủ, đón tiếp các quan chức Chính phủ Đông Dương và để thoả mãn lối sống xa hoa của mình, họ Đèo đã tập trung dân phu, binh lực, thợ thuyền cho việc xây dựng quần thể dinh thự, đặt tại một vị trí hiểm yếu, nằm ở ngã ba nơi gặp nhau của con sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay. Còn sau lưng dinh thự là núi cao, trước mặt là ngã ba sông (sông Đà, sông Nậm Na và suối Nậm Lay) có thể khống chế được con đường lên Phong Thổ, Mường Tè và xuôi về Hòa Bình, Sơn La, cũng như qua ngả Điện Biên sang Lào, địa thế hợp cho việc phòng thủ và chống lại quân địch, nếu thất bại có thể rút lui an toàn. Năm 1918, khu dinh thự đã hoàn thành với 8 đơn nguyên chính là: Cổng chính, nhà Đẳm, nhà ăn, nhà xoè, tháp nước, hầm nhốt phạm nhân, miếu thờ ma rừng và một nhà nữa có mặt hình chữ L (chưa rõ mục đích sử dụng). Ngoài ra, còn một số công trình bổ trợ khác như tường bao, cổng phụ, đường xe dẫn lên cổng chính, bậc thềm dài và hẹp dẫn xuống hầm nhốt phạm nhân, kho thóc, bến thuyền, nghĩa địa. Khu nhà chính được xây hai tầng bằng gạch đỏ, sàn gỗ, mái lợp ngói được tách ra từ những phiến đá, thường được gọi là đá đen (lúc mới tách đá mềm có thể dùng dao cắt được, nhưng khi gặp nắng đá sẽ cứng như sành). Xung quanh lâu đài là bức tường thành cao trên 3m, được xây bằng đá phiến dày 40 đến 50cm, rất vững chãi, trên tường có nhiều lỗ châu mai quan sát phía bên ngoài. Trước khu nhà chính có khoảng sân rộng để múa xoè khi Đèo Văn Long tổ chức tiệc tùng, tiếp khách. Có thể nói quần thể dinh thự là một “pháo đài bất khả xâm phạm” của vua Thái. Nói đến Đèo Văn Long là con thứ của Đèo Văn Trị và là một lãnh chúa của Khu tự trị Thái ở Liên bang Đông Dương. Gia đình họ Đèo vốn xuất thân từ một dòng dõi quý tộc tại Vân Nam (Trung Quốc), họ không phải những người phản động mà đã cùng nhau chung sống hòa thuận trên mảnh đất Lai Châu từ rất lâu. Những năm cuối thế kỉ XIX, hưởng ứng phong trào Cần Vương, dòng họ Đèo đã sát cánh cùng nghĩa quân Cờ Đen trấn giữ Sơn Tây và lập được nhiều chiến công. Thế nhưng sau những tổn thất khá lớn ở trận quyết chiến cùng sự nghi kị, thiếu thống nhất trong nội bộ, Đèo Văn Trị đã kí vào bản hiệp ước ngừng bắn vĩnh viễn với quân Pháp. Được Chính phủ Pháp bảo hộ, hậu thuẫn về tiền bạc và vũ khí, Pháp khôi phục cho Đèo Văn Trị cai quản vùng đất Sipsong Chuthai (12 xứ thái). Năm 1908, Đèo Văn Trị mất, trao lại quyền binh cho con là Đèo Văn Kháng, sau đó Kháng chết, Đèo Văn Long thay anh trai lên nắm quyền. Từ đây, với bản chất là kẻ tàn bạo, Đèo Văn Long gieo rắc bao nỗi khiếp sợ cho Nhân dân trong vùng. Ngoài việc cho quân lính đi cướp bóc vơ vét của cải của Nhân dân trong vùng, vua Thái còn đóng những chiếc thuyền lớn, lấy sông Đà làm trục giao thông chính chở lâm thổ sản mà hắn đã cướp được của Nhân dân địa phương mang xuống miền xuôi bán như: thuốc phiện, da hổ, da báo, mật gấu,… sau đó chở hàng hóa lên bán cho người dân địa phương. Sau giải phóng thị trấn Lai Châu (1952), Đèo Văn Long chạy sang Pháp lưu vong, dinh thự bị người dân phá hủy. Đến nay toàn bộ khu dinh thự đã trở thành phế tích, nhiều công trình bị mất hoàn toàn không thể xác định được hình dáng kiến trúc ban đầu. Năm 1980, dinh thự Đèo Văn Long được UBND tỉnh Lai Châu ra quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh và nằm trong kế hoạch phục dựng. Tuy nhiên từ năm 2010, công trình thủy điện Sơn La tích nước, một phần khu dinh thự của Đèo Văn Long bị chìm vĩnh viễn xuống lòng sông chỉ còn lại một ít phế tích. Nguồn: Báo Lai Châu

Lai Châu 363 lượt xem

Xếp hạng : Di tích cấp tỉnh Mở cửa

Điểm di tích nổi bật