Điểm di tích

Cầu Tà Vài

Cầu Tà Vài, thuộc bản Tà Vài, xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu là di tích lịch sử nổi tiếng của tỉnh. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp cây cầu không chỉ mang ý nghĩa dân sinh mà còn là di tích lịch sử. Bản Tà Vài nơi có cây cầu với 46 trận đánh phá ác liệt và phải hứng chịu 1.272 quả bom của máy bay Mỹ nhằm cắt đứt huyết mạch Quốc lộ 6. Nhưng cây cầu vẫn đứng vững, đảm bảo giao thông thông suốt. Năm 1965, giặc Mỹ đã dùng không quân, biệt kích điên cuồng phá hoại miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối với đồng bào miền Nam. Cây cầu Tà Vài ngày đó là trọng điểm mà giặc Mỹ bắn phá, ngày 20-6-1965, máy bay Mỹ đã ném 6 quả bom xuống bản Khâu Đay (Chiềng Hặc, Yên Châu) và 20 quả rốc két xuống cầu Tà Vài. Bắt đầu từ đây, các loại máy bay Mỹ liên tục bắn phá Yên Châu, nhưng do có sự chuẩn bị tốt các phương án đối phó với chiến tranh phá hoại của Mỹ nên Yên Châu bước vào cuộc chiến mà không bị bất ngờ. Lúc này cây cầu Tà Vài trở thành nơi giao tranh quyết liệt giữa ta và địch. Với quyết tâm bảo đảm mạch máu giao thông thông suốt trong mọi tình huống, quyết bám trụ tại trọng điểm giao thông cầu Tà Vài, lực lượng dân quân tự vệ cùng các đơn vị lực lượng vũ trang đã luôn bám mặt đường và cầu để đảm bảo cho xe thông tuyến. Tại đây, từ tháng 3 đến 12-1966 ta đã bố trí Tiểu đoàn 14 pháo cao xạ để bảo vệ cầu Tà Vài, trong đó Đại đội 3 gồm 2 khẩu đội pháo 37 ly được bố trí trận địa khu vực đồi bản Tát, giáp cầu Tài Vài, Đại đội 2 gồm 4 khẩu 37 ly được bố trí liên hoàn ở phía Tây cầu Tà Vài. Ngoài hai trận địa chính với phản lực là pháo 37 ly, còn một trận địa phụ gồm 1 đại đội 12,7 ly được bố trí ở địa hình thấp hơn cũng ở gần cầu Tà Vài. Để bố trí được trận địa như vậy, nhân dân bản Tà Vài đã cùng bộ đội đào công sự làm đường vòng quanh sườn đồi để kéo pháo lên. Mỗi khẩu pháo 37 ly phải huy động 200 người mới kéo được. Để động viên tinh thần và giúp đỡ bộ đội chiến đấu, nhân dân bản Tà Vài vừa hăng hái tham gia chiến đấu, vừa sản xuất lúa gạo để đóng góp cho tiền tuyến. Trong những năm tháng đó, nhân dân Tà Vài đã cùng với các bản khác trong xã Chiềng Hặc đóng góp gần 9 tấn rau, 500kg gia cầm, hàng tấn lương thực… Ngoài ra, đội văn nghệ của xã còn đến tận trận địa phục vụ bộ đội và dân quân. Nhiều lần phải di chuyển trận địa, nhân dân đã cùng bộ đội lấy dây rừng bện lại để kéo pháo; lấy tre, nứa làm lán cho bộ đội và giúp bộ đội đào trên 3.000 mét hầm trú ẩn trên trận địa với quyết tâm bảo vệ huyết mạch giao thông cho chiến trường. Địch phá hỏng cầu, đường, nhưng tinh thần của quân và dân ở đây không hề nao núng, mặc cho bom đạn gào thét vẫn hăng hái sửa đường cho xe qua, với phong trào thi đua “Tiếng hát át tiếng bom” và “Địch phá, ta sửa ta đi. Địch phá ta cứ đi”. Ngày 8-12-1966, địch tổ chức 3 tốp máy bay thả bom trên đồi nơi có trận địa pháo phòng không và bắn phá cầu Tà Vài, lúc này 2 nhịp cầu đã bị trúng bom và rơi xuống suối, giao thông đường 6 bị cắt đứt. Do cầu ở vị trí hiểm trở, suối rộng, nước sâu, hơn nữa giặc lại đánh cả ngày lẫn đêm nên rất khó làm lại cầu. Trước tình hình đó, đơn vị bảo vệ cầu quyết định làm đường tránh và đường ngầm để đảm bảo giao thông bằng mọi giá. Đường ngầm cầu Tà Vài được quân và dân làm cách chân cầu khoảng 1km về phía hạ lưu, nhưng giặc vẫn phát hiện và tiếp tục bắn phá. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm, các đơn vị bộ đội và dân quân tự vệ đã bảo đảm tốt mạch máu giao thông. Phát huy truyền thống chiến đấu ngoan cường, tinh thần đoàn kết một lòng, nhân dân bản Tà Vài với khí thế sục sôi căm thù quân xâm lược, biến thành hành động cách mạng trong chiến đấu và sản xuất, góp phần xuất sắc vào thành tích đánh bại âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ. Tại trận địa cầu Tà Vài, quân và dân Yên Châu đã bắn rơi 2 máy bay F105 và bắt sống giặc lái Mỹ bằng súng trường, huyết mạch chi viện cho Miền Nam luôn thông suốt, chiến công đó đã nhanh chóng lan rộng đi khắp nơi, được cả nước biết đến. Ngày nay, chiến tranh đã lùi vào quá khứ, người dân Tà Vài chăm chỉ lao động sản xuất và tiếp tục đóng góp sức người, sức của cho quê hương, nơi có cây cầu Tà Vài ghi dấu tội ác của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam. Nói đến cầu Tà Vài là nói đến tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường và chiến đấu vẻ vang của quân và dân Yên Châu. Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH SƠN LA

Sơn La 54 lượt xem

Ngày cập nhật : 31/01/2024 Mở cửa

Di tích khảo cổ mái đá bản Mòn

Mái đá bản Mòn ở xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu, cách thành phố Sơn La khoảng 30km về phía tây bắc, được nữ học giả người Pháp - bà M.Colani phát hiện và khai quật vào tháng 5-1927. Bảo tàng tỉnh Sơn La phối hợp với Viện Khảo cổ học Việt Nam khai quật một số điểm vào tháng 10-2004. Theo đánh giá của bà M.Colani và các nhà khảo cổ học Việt Nam di chỉ mái đá bản Mòn là một xưởng chế tác công cụ lao động và đồ trang sức có niên đại hậu kỳ đá mới, cách đây khoảng 4.000 năm. Năm 2017, di tích được Bảo tàng tỉnh Sơn La phối hợp với UBND huyện Thuận Châu lập dự án tu bổ, tôn tạo. Mái đã bản Mòn được xếp hạng Di tích cấp tình ngày 28-4-2006. Trong 6 mái đá của di chỉ này chỉ có 2 mái đá có vết tích cư trú của con người. Mái đá phía tây: trên mặt nến của mái đá có lớp vỏ ốc tạo thành tầng dày 30cm, chủ yếu là ốc nước ngọt Melania. Dưới đáy, dọc theo thành vách là khối dăm kết vội, vỏ nhuyễn thể và các vật liệu khác khá vững chắc. Vết tích tiền sử ở đây gồm: 1 chày nghiền bằng đá cuội, 2 viên đá có vết ghè đẽo, 1 chiếc rìu mài bị vỡ, 1 dùi xương nhỏ mài, 1 vài mảnh tước có dấu cưa và một số mảnh gồm cổ. Mái đá phía đông: rộng 20m, sâu 5m. Tầng văn hóa ở mái đá này còn tương đối "nguyên vẹn, trầm tích khảo cổ dày tới vài chục centimét, có chỗ dày tới 1,5m. Trong tầng văn hóa phát hiện 1 rìu đồng, những mảnh vòng khoan tách lỏi và rất nhiều gốm thô. Ngoài ra, ở mái đả còn tìm thấy rìu co chuôi tra cán, rìu mài toàn thân chế tạo tinh xảo, đục tứ giác mài toàn thân lưỡi vát một mặt, đặc biệt là di cốt người chôn không sâu lắm, xương cốt vỡ vụn. Di tích Khảo cổ Mái đá bản Mòn được xếp hạng Di tích Quốc gia theo Quyết định số 698/QĐ-BVHTTDL ngày 20/3/2023 của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch. Nguồn: Báo Sơn La

Sơn La 62 lượt xem

Ngày cập nhật : 31/01/2024 Mở cửa

Di tích khảo cổ hang mộ Tạng Mè

Di chỉ hang mộ Tạng Mè ở bản Lồi, xã Suối Bàng, huyện Vân Hồ. Hang Tạng Mè là một mái đá lớn, cao khoảng 12m, rộng 17m, sâu 16m, cách bản Nà Lồi khoảng 2,5km về phía đông. Hang mộ Tạng Mè được phát hiện từ những năm 1980, và đã được hoàn thành các thủ tục tâm linh. Trong tiếng Mường, “Tạng” là chỗ lên giữa 2 lối đi, một bên lên bản, một bên xuống sông, ở đó có cây me cao 8-12 m, có quả tròn, màu xanh vàng nhạt, vị chát, ngọt. Tên hang mộ “Tạng Mè” nghĩa là đoạn đường giữa hai lối lên bản, xuống sông, chỗ có nhiều cây me tròn. Bên trong hang phát hiện có 30 mộ táng làm bằng gỗ đinh thối - một loại gỗ tốt, không mối mọt, chịu được mưa nắng. Theo kết quả phân tích cacbon phóng xạ (C14) thì những mộ này có niên đại di cốt các đây 1.240 +/- 100 năm (thế kỷ XIII). Các quan tài đều được làm bằng cây gỗ bổ đôi, bên trong khoét lòng để đặt người chết, hai đầu quan tài được tạo những mấu chốt cong hình thuyền đuôi én, có đục lỗ cài then với những kích cỡ khác nhau, được chia thành 4 oại hình khác nhau. Có thể chủ nhân của các quan tài này thuộc về những cư dân nông nghiệp cổ, sống dựa vào sông nước. Tất cả các quan tài được đặt trên nền hang, không chôn dưới đất. Các hiện vật được tìm thấy trong quan tài gồm: 1 đoạn xương ống chân dài 0,43m, 1 xương sườn, 1 xương sọ và hàm răng trên còn 4 chiếc răng… Theo Trường đại học Tây Bắc cho biết: Những quan tài ở hang mộ Tạng Mè là hình thức “huyền táng”, đây là một loại hình táng thức độc đáo, còn ẩn chứa nhiều bí ẩn. Di chỉ hang mộ Tạng Mè là một minh chúng cho sự cư trú lâu dài của người cổ ở huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La. Di tích đang được Ủy ban nhân dân huyện Vân Hồ lập dự án tu bổ, tôn tạo. Hang mộ Tạng Mè đã được xếp hạng Di tích quốc gia vào ngày 5-3-2014. Nguồn: Báo Sơn La

Sơn La 50 lượt xem

Ngày cập nhật : 31/01/2024 Mở cửa

Hang A Phủ

Hang Thẩm Cắn còn gọi là hang “Vợ chồng A Phủ”, chính là khu căn cứ cách mạng 99 trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp của tỉnh Sơn La. Hang thuộc xã Hồng Ngài, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn la. Khu di tích gồm có hai hang: Hang thứ nhất (hang khô) nằm dưới chân của ngọn núi U Bò, xung quanh là khu rừng nguyên sinh, khí hậu thoãng đãng, mát mẻ. Trước cửa hang là nương rẫy của bà con nhân dân được bao trùm khắp 4 mùa một màu xanh hoa trái. Hang khô gồm có 2 cửa nằm ở 2 phía Đông, Tây nối thông với nhau chia hang làm 3 khoang. Tổng chiều dài của hang từ Tây sang Đông khoảng 200m. Cửa phía Tây cao khoảng 3 m, rộng 1,5m, lối vào hang nhỏ hẹp, hạn chế ánh sáng. Càng đi sâu lòng hang càng mở rộng , trần hang cao trung bình từ 20-40m, độ rộng trung bình 15-30m. Nền hang gồ ghề và hơi dốc, có nhiều hòn đá nằm rải rác khắp trên nền hang. Trần hang có nhiều nhũ đá khá đẹp hình các loại muông thú, rừng cây...Trong khoang thứ 2, 3 còn có nhiều ngách hẹp chạy dọc theo vách hang, sâu trung bình 10-15m. Đi hết khoang 3 là đến cửa phía Đông. Cửa hang hình bầu dục cao khoảng 50m-60m, phía đáy rộng khoảng 20m, ở phần giữa cửa hang rộng khoảng 30m. Đây là nơi Đại đội quân báo thuộc Bộ Tổng Tham mưu đã tạm trú hai ngày để tìm cách vượt sông Đà chuẩn bị cho chiến dịch Tây Bắc 1952. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì hang Thẩm cắn cũng là nơi đóng quân và cất giữ vũ khí của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Ngoài ra hang Thẩm cắn trong văn học với tên gọi khác là hang Vợ chồng A Phủ. Theo truyền thuyết sau khi thoát khỏi gia đình Thống lý Pá Tra để đến với khu du kích Phiềng Sa thì Mỵ và Aphủ (hai nhân vật chính trong tác phẩm) đã dừng chân tại đây một thời gian để tránh sự lục soát của bọn Thống lý. Hang thứ 2 là hang nước cách hang thứ nhất khoảng 20m về phía Nam. Cửa vào hang nằm sâu dưới lòng đất khoảng 5m. Đường xuống hang dốc, nhiều tảng đá gập ghềnh, rất nguy hiểm. Hang có chiều dài khoảng 300m. Lòng hang tối, có độ rộng khoảng 7m, từ nền hang đến trần hang cao trung bình khoảng 10-12m, có chỗ chỉ cao 4-5m. Nền hang là một dòng suối chảy dọc theo hang từ Tây sang Đông. Đây là nơi Đại đội quân báo đến lấy nước sinh hoạt trong thời gian tạm trú ở hang khô. Hang Thẩm Cắn - Khu căn cứ kháng chiến 99 được xếp hạng Di tích lịch sử cấp tỉnh vào ngày 28-5-2012. Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ UBND HUYỆN BẮC YÊN - SƠN LA

Sơn La 53 lượt xem

Ngày cập nhật : 31/01/2024 Mở cửa

Bãi đá cổ hang chú

Di tích bãi đá khắc cổ Khe Hổ nằm trong thung lũng hẹp và cắt xẻ sâu, thuộc bản Hang Chú, xã Hang Chú, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Di tích bãi đá Khe Hổ được nhân dân phát hiện và báo cho Bảo tàng Sơn La tổ chức khảo sát vào cuối năm 2011. Tháng 5 - 2014, cán bộ Viện Khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh Sơn La phối hợp tiếp tục điều tra, xác minh và nghiên cứu bãi đá khắc Khe Hổ với mục tiêu phát hiện mới các di tích khắc đá cổ, nghiên cứu niên đại, các loại hình hoa văn khắc trên đá. Đồng thời, đánh giá giá trị lịch sử văn hóa di tích Khe Hổ. Trong đợt khảo sát này, đã phát hiện 9 hòn đá granite, bị phong hóa có vết khắc, phân bố trên bản đồ với 6 cụm. Người xưa sử dụng kỹ thuật đục trực tiếp vào mặt đá, bằng một dụng cụ có đầu nhọn với độ cứng cao. Các vết đục rộng dài15cm, rộng 6,0cm, sâu trung bình 2,5cm - 3,0cm. Có một vài đặc điểm thống nhất là vết khắc được tiến hành do con người, bằng phương pháp thủ công, trực tiếp và không có hiện tượng khắc chồng đè lên nhau giữa các lần khắc. Điều này gợi ý rằng, các vết khắc ở đây là của một cộng đồng người, khắc trong một thời gian dài, liên tục và không có hiện tượng khắc chồng đè lên các lần khắc trước, hoặc cố tình khắc sửa vào các lần khắc trước. Có thể người xưa đã khắc theo hình vẽ dự kiến trước. Các hình khắc Khe Hổ gồm các hình xoáy chôn ốc (lôi văn), các xoáy gấp khúc vuông (hồi văn), các hình lỗ vũm, các đường cong đều, các hình người nhảy múa, hình bàn chân hoặc đầu người. Các hình xoáy ốc ở đây cũng khá đa dạng và đặc trưng riêng cho Khe Hổ. Đó là các xoáy ốc độc lập, vòng xoáy chữ S đơn (một vòng), xoáy chữ S kép (nhiều vòng). Hai vòng xoáy ngược chiều nhau tạo hình chữ S kép (đối xứng lưỡng trục), hai vòng xoáy cùng chiều tạo hình chân con rết (đối xứng gương) hoặc nhiều hình xoáy liên kết nhau tạo chữ S chùm (đối xứng trục xoay). Các đường hồi văn ở đây đơn giản hơn, gồm các hình gấp khúc khép kín tạo hình vuông hoặc không khép kín tạo hình dích dắc. Ở Khe Hổ có mặt một số hình khắc mặt người, chân người đặc biệt là hình người trong các tư thế động (nhảy múa), dạng chân tay hoặc đứng nghiêng. Nhìn chung, những hình khắc này mang tính biểu tượng, ước lệ và chịu ảnh hưởng nhất định của nghệ thuật tạo hình thời Tiền - Sơ sử. Di tích bãi khắc đá cổ Khe Hổ có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu: Khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học và đặc biệt là mỹ thuật học. Di tích bãi khắc đá cổ Khe Hổ với những hình khắc vẽ mang tính biểu tượng, tính ước lệ cao, nhưng phản ánh những dấu ấn lịch sử và thành tựu văn hóa của con người về tự nhiên, về xã hội và về chính bản thân con người ở một lát cắt quan trọng của lịch sử, một khâu nối từ tiền - sơ sử đến lịch sử. Di tích khắc đá cổ Khe Hổ còn là kết quả hoạt động sáng tạo nghệ thuật tạo hình của con người trong điều kiện thiên nhiên cụ thể và của một cộng đồng người nhất định; phản ánh nhận thức cái đẹp, sáng tạo nghệ thuật trong quá trình lao động sản xuất, trong sinh hoạt cộng đồng và trong các mối liên hệ với các cộng đồng khác. Cho đến nay, ở Việt Nam những di tích nghệ thuật khắc đá được biết còn khá ít về số lượng và loại hình khắc, nội dung còn đầy bí ẩn, hoặc bị xâm hại nghiêm trọng. Vì vậy, các di tích ở Khe Hổ sẽ đóng góp rất nhiều tư liệu cho việc nhận thức lịch sử văn hóa đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng năm 2014. Nguồn: BẢO TÀNG TỈNH SƠN LA

Sơn La 51 lượt xem

Ngày cập nhật : 31/01/2024 Mở cửa

Di tích lịch sử tập đoàn cứ điểm Nà Sản

Tập đoàn cứ điểm Nà Sản nằm trên cao nguyên Nà Sản, là một lòng chảo thuộc địa phận xã Chiềng Mun - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La với diện tích khoảng 10km2 được bao quanh bởi các dãy núi cao trên 700m. Tại đây có sân bay, Sở chỉ huy, một số đồn bốt, hệ thống hỏa lực mạnh của bốn khẩu pháo 105mm và nhiều đường giao thông hào vây quanh bảo vệ khu trung tâm. Cũng như Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quan trọng nhất của khu căn cứ quân sự này là sân bay Nà Sản, có nhiệm vụ tiếp tế cho quân Pháp đang làm nhiệm vụ tại đây. Sân bay này được xây dựng từ năm 1950 khi quân Pháp đặt sự thống trị, đàn áp nhân dân các dân tộc Tây Bắc sau khi chiếm được quyền kiểm soát từ tay Việt Minh. Ban đầu sân bay Nà Sản để phục vụ cho nhu cầu đi lại với hệ thống đường băng ngắn, nhỏ và kết cấu đơn giản, sau này được mở rộng, kéo dài và nâng cấp nền lát ghi sắt, có thể đáp ứng cho loại máy bay Dakota cất và hạ cánh. Trong khoảng thời gian gần một tháng từ khi quân Pháp rút về đây, chúng liên tục tăng viện lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược, dây thép gai và những vật liệu cần thiết để củng cố khu căn cứ quân sự này. Vì thời gian gấp rút nên hệ thống công sự ở đây được làm nhanh chóng bằng những vật liệu thô sơ như tre, gỗ, .. và được xây, đắp tạm thời để ở và chiến đấu. Tại các cứ điểm tại khu trung tâm, xung quanh sân bay được ưu tiên hơn, xây dựng kiên cố bằng xi măng, cát, lát tấm ghi sắt. Hầm chỉ huy trung tâm còn có hệ thống giao thông hào tương đối an toàn thoát ra sân bay trong trường hợp cần thiết. Chiến dịch Tây Bắc bắt đầu từ ngày 01-10-1952 và kết thúc vào ngày 10-12-1952. Sau 3 đợt tiến công quyết liệt của quân và dân ta nên chiến dịch nhanh chóng kết thúc sớm so với dự kiến ban đầu là 4 tháng. Ta đã tiêu diệt được nhiều quân địch và thu nhiều vũ khí, đạn dược, địch phải rút về co cụm ở tập đoàn cứ điểm Nà Sản. Trước thế bị động cô lập hoàn toàn, chúng biết khả năng không thể tồn tại trên mảnh đất này, nên đã bí mật tháo chạy bằng đường hàng không ở sân bay Nà Sản. Chiến dịch Tây Bắc đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Đến nay, người ta ít biết đến Tập đoàn cứ điểm Nà Sản vì quy mô nhỏ lẻ và còn mang tính chất thụ động đối phó. Tuy nhiên đây là khởi nguồn đầu tiên cho hình thức đánh tập đoàn cứ điểm của Thực dân Pháp, là ý tưởng hình thành Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ sau này, là hình thức phòng ngự có ý nghĩa chiến lược lần đầu tiên xuất hiện trong chiến tranh Việt Nam. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản là chứng tích của những năm tháng oanh liệt của quân và dân ta chống thực dân Pháp tại chiến trường Tây Bắc, là dấu ấn cho sự thất bại thảm hại của thực dân Pháp. Tập đoàn cứ điểm Nà Sản được xếp hạng Di tích lịch sử quốc gia vào ngày 24-1-1998. Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH SƠN LA

Sơn La 54 lượt xem

Ngày cập nhật : 31/01/2024 Mở cửa

Di tích lịch sử Kỳ đài Thuận Châu

Di tích lịch sử Kỳ đài Thuận Châu thuộc bản Pán, xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu. Nơi đây đánh dấu một sự kiện lịch sử ngày 7/5/1959 Hồ Chủ Tịch cùng với Ban lãnh đạo Đảng và Chính phủ lên thăm Tây Bắc. Trong kháng chiến chống Pháp và sau hoà bình lập lại trên Miền Bắc, mặc dù bận trăm công ngàn việc của đất nước, Bác Hồ – Vị cha già kính yêu của dân tộc luôn quan tâm tới nhân dân các dân tộc Tây Bắc. Đáp lại lòng tin của Bác, nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã dũng cảm trong chiến đấu, hăng hái thi đua lao động sản xuất và mong ước được đón Bác lên thăm và được báo cáo với Bác những thành tích đã đạt được. Ngày 7/5/1959, mong ước của nhân dân các dân tộc Tây Bắc đã trở thành hiện thực. Quảng trường của thủ phủ khu tự trị Thái – Mèo rực rỡ cờ hoa, biểu ngữ khẩu hiệu và hơn 1 vạn người đại diện cho 43 vạn nhân dân các dân tộc Tây Bắc hân hoan đón chào Bác dẫn đầu phái đoàn của Đảng – Chính phủ lên thăm. Bằng cử chỉ vô cùng giản dị, thân mật và gần gũi, Bác đã ghi nhận, biểu dương sự hy sinh và những đóng góp hết sức to lớn của nhân dân các dân tộc Tây bắc trong kháng chiến chống pháp, trong khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Người đã thay mặt Chính phủ tặng nhân dân các dân tộc Tây Bắc tấm Huân chương lao động hạng nhất. Người căn dặn: Phải hăng hái thi đua phát triển kinh tế – xã hội, củng cố các thành phần kinh tế, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển mạng lưới giáo dục – y tế, củng cố an ninh quốc phòng. Hơn 40 năm đã trôi qua, lời dặn của Người đã được Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc Sơn La bền bỉ phấn đấu thực hiện, đã và đang làm cho vùng đất Miền Tây của Tổ quốc có những đổi thay to lớn. Di tích lịch sử Kỳ đài Thuận châu nằm ngay trong khuôn viên sân vận động huyện Thuận Châu. Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH SƠN LA

Sơn La 48 lượt xem

Ngày cập nhật : 30/01/2024 Mở cửa

Văn Bia Quế Lâm ngự chế

Di tích lịch sử Văn bia Quế Lâm Ngự Chế thuộc tổ 3, phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La. Nơi đây đã minh chứng thời kỳ lịch sử của vị vua hùng tài, đại lược Lê Thái Tông cùng quân sỹ đi chinh phạt quân phiến loạn ở vùng biên cương phía Tây của Tổ quốc, giữ bình yên cho bờ cõi nước nhà. Di tích được Bộ Văn hóa, Thông tin xếp hạng cấp Quốc gia ngày 05/02/1994. Vua Lê Thái Tông, tên húy là Nguyên Long, là con thứ của Vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và Cung từ Hoàng thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần, người hương Quần Lai, huyện Lôi Dương (nay là Thọ Xuân – Thanh Hóa). Từ khi lên ngôi, Vua Lê Thái Tông rất chú ý đến miền Tây Bắc, miền đất phên dậu của Tổ quốc. Để củng cố và đảm bảo sự thống nhất Quốc gia, cũng như Vua Lê Thái Tổ và các vị vua khác, trong 9 năm trị vì đất nước, vua Lê Thái Tông đã 2 lần chỉ huy quân sỹ lên miền Tây Bắc dẹp bọn phản nghịch. Tháng 3 năm Canh Thân (1440), nhà vua lần đầu tiên thân chinh cùng quân sỹ lên trấn Miền Tây đi đánh thổ quân phản nghịch tên là Thượng Nghiễm ở Châu Mường Muổi (nay là huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Nhà vua đi tới đâu cũng được nhân dân ủng hộ nên quân của triều đình đã nhanh chóng dẹp tan bọn phản nghịch. Trên đường trở về, nhà vua cùng quân sỹ nghỉ chân tại Động La (Thẳm báo ké), một hang đá tự nhiên ở châu Mường La. Vua thấy nơi đây cảnh đẹp, địa lý thuận lợi, với ý nghĩa sâu xa và tâm hồn thanh thản, nhà vua đã cho quân sỹ khắc bài thơ và lời tựa trên vách đá ở cửa Động La. Bài thơ, Quế Lâm Ngự Chế có ý nghĩa như sau: “Tù trưởng Thuận Châu là Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa, đem quân theo người Ai Lao làm phản. Thân chinh điều khiển sáu quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng. Ta thương nó quỳ bò không mang vũ khí, không nỡ chém, bèn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về để lại một bài thơ. Đúng một năm sau, tháng 3 năm 1441 vua lại đem quân lên dẹp loạn Nghịch Nghiễm ở Châu Mường Muổi, đi đến đâu cũng được nhân dân hưởng ứng, giúp đỡ vì vậy quân của triều đình đã nhanh chóng bắt được tướng Ai Lao là Đạo Mông, đồng thời bắt được con của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Chàng Đồng. Tên phản nghịch Thượng Nghiễm ra hàng và chịu tội, kể từ đây dải đất biên cương phía Tây của Tổ quốc đã được yên bình. Để tri ân công đức của Vua Lê Thái Tông và để di tích Văn bia Quế Lâm Ngự Chế mãi mãi trang nghiêm, tỏa sáng trong lòng các thế hệ nối tiếp, đáp ứng nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng lành mạnh của đồng đảo các tầng lớp nhân dân, được sự nhất trí của Bộ Văn hóa, Thông tin, tháng 9/2001 Tỉnh ủy và UBND Sơn La đã cho khởi công xây dựng đền thờ Vua Lê Thái Tông tại thị xã Sơn La và được khánh thành ngày 22/01/2003, lấy tên là “Quế Lâm linh từ”. Nguồn: CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH SƠN LA

Sơn La 49 lượt xem

Ngày cập nhật : 30/01/2024 Mở cửa

CÂY ĐA BẢN HẸO

Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị của chúng tại vùng Tây Bắc. Chúng cho xây dựng Nhà tù Sơn La để giam cầm, đày ải, thủ tiêu ý chí đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng và những người Việt Nam yêu nước. Tháng 12/1939, những tù nhân chính trị tại nhà tù đã họp bí mật và quyết định thành lập Chi bộ lâm thời. Chi bộ đã chọn cây đa bản Hẹo làm địa điểm liên lạc bí mật với cơ sở cách mạng bên ngoài nhà tù và với Trung ương Đảng. Năm 1942 - 1943, tình hình cách mạng trong nước và thế giới có nhiều biến động, Trung ương Đảng chỉ đạo khu căn cứ Yên Bái, Phú Thọ phải lập đường dây liên lạc với Chi bộ nhà tù Sơn La. Hàng ngày tù nhân chính trị Nhà tù Sơn La phải đến khu vực cây đa để lấy củi, nên các tù nhân đã đặt một hòm thư bí mật, để liên lạc nhận định tình hình địch, hòng tổ chức vượt ngục. Theo kế hoạch đã định, tháng 1 năm 1943. Các Đồng chí ở cơ quan Trung ương đã bố trí gặp các đồng chí trong Chi bộ nhà tù Sơn La tại cây đa Bản Hẹo. Thống nhất kế hoạch hoạt động vượt ngục. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng của các tù nhân từ bên trong nhà tù cho đến các đồng chí, chiến sĩ bên ngoài nhà tù, ngày 3/8/1943, Chi bộ đã tổ chức thành công cuộc vượt ngục cho các tù nhân ưu tú về cơ quan Trung ương Đảng tiếp tục hoạt động cách mạng. Như vậy, trong suốt thờ kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, cùng với các địa điểm liên lạc khác, cây đa bản Hẹo, nơi đặt hòm thư bí mật, nơi gặp gỡ, liên lạc giữa các chiến sỹ cộng sản thuộc Chi bộ nhà tù với lãnh đạo Trung ương - đã thực sự giữ vai trò quan trọng, góp phần tạo nên một mạng lưới thông tin vững chắc, che mắt được mạng lưới mật thám dày đặc của kẻ thù, phục vụ cho sự phát triển của cách mạng và góp phần to lớn vào thắng lợi của phong trào đấu tranh giành chính quyền ở Sơn La nói riêng và cả nước nói chung. Cây đa bản Hẹo nay là một di tích lịch sử cách mạng trong quần thể di tích Quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La, do Bảo tàng tỉnh quản lý. Hàng năm, di tích đón hàng trăm nghìn lượt khách đến tham quan, tìm hiểu, nghiên cứu. Dù đã trải qua bao thăng trầm của lịch sử, cây đa vẫn còn đó như một minh chứng cho một thời kỳ lịch sử cách mạng thế kỷ XX. Nguồn: BẢO TÀNG TỈNH SƠN LA

Sơn La 51 lượt xem

Ngày cập nhật : 30/01/2024 Mở cửa

Di Tích Nhà Tù Sơn La

Nhà tù Sơn La được thực dân Pháp xây dựng năm 1908, bên cạnh dòng suối Nậm La trên đỉnh đồi Khau Cả, nay thuộc phường Tô Hiệu, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Nơi đây đã giam giữ 1007 lượt tù nhân cộng sản, là trường học cách mạng, nơi ươm mầm “hạt giống đỏ” của cách mạng Việt Nam. Nhà tù Sơn La do thực dân Pháp xây dựng năm 1908 với diện tích ban đầu là 500 m2, chủ yếu để giam cầm tù thường phạm. Năm 1930, trước phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của cách mạng Việt Nam ngày càng dâng cao, thực dân Pháp đã mở rộng Nhà tù Sơn La thêm 1.500 m2 và bắt đầu giam chính trị phạm. Năm 1940, thực dân Pháp cho xây dựng một trại giam có diện tích 170m với ý định giam tù nhân nữ, nhưng âm mưu này đã không thực hiện được. Như vậy, qua 3 lần xây dựng và mở rộng, Nhà tù Sơn La có tổng diện tích là 2.170 m2. Đặc biệt, trong quá trình mở rộng nhà tù, thực dân Pháp còn cho xây dựng một dãy xà lim ngầm nằm sâu dưới lòng đất 3m, được che giấu bởi khu nhà bếp ở trên. Hệ thống xà lim ngầm gồm 5 phòng giam cá nhân và 2 phòng giam tập thể, trong đó có 1 xả lim tối. Nhà tù Sơn La được xây dựng kiên cố, tường xây bằng đá lẫn gạch, mái lợp tôi. Giường nằm cho tù nhân xây bằng đá, mặt láng xi măng, mặt ngoài gắn hệ thông cùm chân dọc theo chiều dài của sàn. Với thiết kế như vậy, những đợt gió Lào của vùng Tây Bắc với cái nóng như đổ lửa vào mùa hè cùng những đợt sương muối giá rét vào mùa đông đã khiển các loại bệnh phát sinh và lây lan nhanh chóng. Nhà tù Sơn La được ví như “chiếc quan tài nắp mở, chỉ chờ tù nhân tắt thở đem chôn”. Từ năm 1930 đến năm 1945, thực dân Pháp đã đày lên Nhà tù Sơn La 14 đoàn tù chính trị với tổng số 1.013 lượt tù nhân, trong đó có rất nhiều đồng chí là Ủy viên Trung ương, Xứ ủy, Thành ủy và nhiều cán bộ cốt cán của Đảng. Trực diện với tội ác của kẻ thù, hơn bao giờ hết, khí tiết của những người cộng sản đã tỏa sáng và thắp lên ngọn lửa đấu tranh cách mạng khắp núi rừng Tây Bắc, góp phần rất lớn vào sự thành công của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Nơi đây đã trở thành một trường học cách mạng vĩ đại, đào tạo, bồi dưỡng cho Đảng và cách mạng Việt Nam những chiến sĩ Cộng sản xuất sắc tiêu biểu như: Tô Hiệu, Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Trân, Lê Thanh Nghị, Trần Quốc Hoàng đồng chí trung kiến khác. Hòa bình lập lại, Bảo tàng tỉnh Sơn La đã tiến hành ba lần tu bổ, tôn tạo di tích Nhà tù vào các năm 1980, 1994, 2009 - 2010. Di tích lịch sử Nhà tù Sơn La còn có 2 điểm là: cây đa Bản Hẹo, địa điểm liên lạc giữa Chi bộ Nhà tù Sơn La với Trung ương Đảng và Nghĩa trang liệt sĩ Nhà tù Sơn La (Nghĩa trang Gốc Ôi) là nơi yên nghỉ của hơn 60 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh tại Nhà tù Sơn La. Di tích lịch sử Nhà tù Sơn La đã trở thành một địa chỉ đỏ trong công tác giáo dục truyền thống cách mạng cho thế hệ các dân tộc Sơn La và nhân dân cả nước. Nhà tù Sơn La được xếp hạng quốc gia năm 1962 và Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vào ngày 31-12-2014. Di tích Nhà tù Sơn La đã trở thành một trường học, một trung tâm giáo dục truyền thống cách mạng cho các thế hệ người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ. Nguồn: Cổng Thông Tin Điện Tử Tỉnh Sơn La

Sơn La 51 lượt xem

Ngày cập nhật : 30/01/2024 Mở cửa

Điểm di tích nổi bật